Mang lại nét sinh động trong không gian sống của chính gia đình bạn

Chính sách giao nhận

Giao hàng trong vòng 24h

Hướng dẫn mua hàng

Guide customers to purchase

Hình thức thanh toán

Hình thức thanh toán linh hoạt

Hổ trợ trực tuyến

Hổ trợ tư vấn khách hàng 24/7

Hỗ trợ khách hàng 24/7

0888 505 505
Phân loại cá dĩa

Phân loại cá dĩa hoang dã


[​IMG]
Biến thể: dĩa heckel (heckel discus)
Màu gốc: nâu (brown)
Màu: lam & đỏ
Can: 9
Mắt: bán (semi-round) đỏ hoặc đen
Phân bố: 
Rio Negro, Rio Abacaxis, Rio Madiera, Rio Nhamunda
Đặc điểm:
1) Đa số cá thể có can 1 (mắt), 5 (giữa thân) và 9 (gốc đuôi) đậm. Can 5 thường to hơn nhiều so với các can khác.
2) Chỉ lam ngang, đơn giản phân bố toàn thân.
3) Chỉ ở vùng D thường rất nhạt so với vùng đầu, vây lưng và vây hậu môn. Đôi khi lưng không có chỉ, thay vào đó là mảng lam đơn sắc (hình 10).
4) Một số cá thể có nền tươi và đốm ở nắp mang (hình 18).
5) Một số cá thể có 
nền đỏ (còn gọi là red heckel, red discus, pompadour fish).
6) Cá dĩa heckel nổi tiếng khó nuôi hơn các biến thể cá dĩa khác; chúng đòi hỏi độ pH thấp, nước mềm và ấm. Cá dĩa thuần dưỡng hầu như không có quan hệ huyết thống với cá dĩa heckel (mà với cá dĩa lam, dĩa nâu và dĩa lục).
[​IMG]
[​IMG]

---------------------

[​IMG]
Biến thể: cá dĩa nâu (brown discus)
Màu gốc: nâu (brown)
Màu: lam
Can: 9
Mắt: bán (semi-round) đỏ
Phân bố: Alenquer, Belem, Madiera, Rio Tocantis, Rio Xingu, Santarem
Đặc điểm:
1) Màu nâu ở vùng D và một số chỉ lam trên đầu, vây lưng và vây hậu môn.
2) Chỉ trên đầu thường nằm ngang.
3) Viền lam sẫm có thể xuất hiện trên vây lưng và vây hậu môn.
[​IMG]
[​IMG]

---------------------

[​IMG]
Biến thể: alenquer red (một biến thể từ cá dĩa nâu)
Màu gốc: nâu (brown)
Màu: lam, vàng & đỏ
Can: 9
Mắt: bán (semi-round) đỏ
Phân bố: Alenquer
Đặc điểm:
1) Tông màu đỏ sẫm ở vùng D và một số chỉ lam trên đầu, vây lưng và vây hậu môn.
2) Chỉ trên đầu thường nằm ngang.
3) Viền lam sẫm có thể xuất hiện trên vây lưng và vây hậu môn.
4) Đa số cá thể có can mắt đậm và mắt ô-van.
5) Đa số cá cái thường đỏ hơn cá đực.
[​IMG]
[​IMG]

---------------------

[​IMG]
Biến thể: dĩa lam (blue discus)
Màu gốc: nâu (brown)
Màu: lam
Can: từ 8 đến 16
Mắt: bán (semi-round) đỏ
Phân bố: 
Alenquer, Madiera, Maracana, Nhamunda, Terra Santa, Uatuma
Đặc điểm:
1) Vùng D màu nâu như cá dĩa nâu.
2) Chỉ lam trên đầu, vây lưng và vây hậu môn thường tươi và nhiều hơn (lan qua vai) so với cá dĩa nâu.
3) Chỉ trên đầu thường nằm ngang.
4) Can mắt thường đậm.
5) Viền lam sẫm có thể xuất hiện trên vây lưng và vây hậu môn.
6) Màu sắc và số lượng can đa dạng (8-16).
[​IMG]
[​IMG]

---------------------

[​IMG]
Biến thể: cá dĩa lục (green discus hay spotted green classic)
Màu gốc: nâu (brown)
Màu: lục, đỏ & vàng
Can: 9
Mắt: bán (semi-round) đỏ
Phân bố: Tefé, Bauana
Đặc điểm:
1) Biến thể này có một ít chỉ lục trên đầu, vây lưng và vây hậu môn.
2) Đốm nhỏ thường xuất hiện ở vùng D và đôi khi trên cả vây hậu môn.
3) Hầu hết cá thể khi trưởng thành đều có bụng màu vàng.
4) Can mắt hiện rõ kể cả khi cá trưởng thành.
5) Đa số cá thể đều có một số chỉ ngang trên vai.
6) Một số đốm màu đỏ nhưng đa phần có màu cam.
7) Viền lam sẫm có thể xuất hiện trên vây lưng và vây hậu môn.
                                                      [​IMG]
                                                      [​IMG]


Tên khoa học
Trước năm 2006
- Năm 1840, tiến sĩ Johann Jacob Heckel phát hiện cá dĩa heckel (heckel discus - Symphysodon discus discus) ở Manuas, lưu vực sông Đen (Rio Negro), trung tâm Brazil.
- Măm 1904, Pellegrin phát hiện cá dĩa lục (green discus - Symphysodon aequifasciatus aequifasciatus) ở hồ Tefe, và các vùng Coari, Nanay và Japura ở lưu vực sông Amazon thuộc Peru và Brazil.
- Năm 1960, Schultz phát hiện cá dĩa nâu (brown discus - Symphysodon aequifasciatus axelrodi) ở Belem và sông Urubu, gần cửa sông Amazon.
- Năm 1960, Schultz phát hiện cá dĩa lam (blue discus - Symphysodon aequifasciatus haraldi) ở gần Manuas, các sông Purus và Manacapuru, Brazil cũng như Leticia, Peru.
- Năm 1981, Burgess phát hiện biến thể nhạt màu hơn của cá dĩa heckel (Symphysodon discus willischwartzi) ở Abacaxis (một nhánh của sông Madeira), Brazil.

Tổng cộng có hai loài (Symphysodon discus và Symphysodon aequifasciatus) và năm phân loài cá dĩa được xác định dựa trên đặc điểm hình thái và vùng phân bố.

Sau năm 2006
Những nghiên cứu dựa trên phân tích gien cá dĩa hoang dã được thực hiện bởi Ready & đồng sự (2006) và Bleher & đồng sự (2007) đã phần nào hé lộ bí mật về các loài cá dĩa hoang dã:

- Có ba loài cá dĩa là cá dĩa lục (Symphysodon aequifasciatus), cá dĩa heckel (Symphysodon discus) và cá dĩa lam/nâu (Symphysodon haraldi). Như thông lệ, tên khoa học sẽ được cập nhật theo nghiên cứu mới nhất (2007).

                                                                              [​IMG]
                                                 [​IMG]

- Đúng như nhận định về “một số loài cá dĩa lam chẳng qua là biến thể sặc sỡ hơn của cá dĩa nâu”, hiện tại cá dĩa lam và cá dĩa nâu được coi là các biến thể cùng loài.
- Nhóm cá dĩa lục ở thượng nguồn phân lập với các nhóm cá dĩa heckel và cá dĩa lam/nâu ở hạ nguồn sông Amazon thông qua eo Purus. Tuy nhiên, một số cá thể 
dĩa lục có hình thái tương tự như cá dĩa lam (hiện tượng tiến hóa hội tụ).
- Không có phân loài cá dĩa nào tồn tại.
- Có hiện tượng lai tạp tự nhiên giữa cá dĩa heckel Symphysodon discus với cá dĩa lam/nâu Symphysodon haraldi (tạo ra những cá thể "lỡ cỡ" về hình thái và di truyền).

                                                                 [​IMG]
                                                                  [​IMG]

Lai tuyển chọn hoặc đột biến từ cá dĩa hoang
Bông xanh (brilliant/blue turquoise)
: được lai tuyển chọn từ cá dĩa lam với đặc điểm chỉ lam phủ toàn thân trên nền nâu đỏ. Dòng cá này bắt nguồn từ nhà lai tạo người Mỹ Jack Wattley.
> Lam phấn (blue diamond): được các nhà lai tạo Malaysia lai tuyển chọn từ cá bông xanh vào năm 1990.
> Lam Đức (cobalt): lai tuyển chọn từ cá dĩa bông xanh từ những năm 1970.
>> Ocean green: đột biến từ lam đức vào năm 1992 tại Malaysia.
>> Blue cover: đột biến từ lam đức vào năm 1992 tại Malaysia.

Bông đỏ (red turquoise): lai tuyển chọn từ cá dĩa lam với đặc điểm chỉ lam nhạt phủ toàn thân trên nền nâu đỏ. Dòng cá này bắt nguồn từ tiến sĩ Edward Schmidt-Focke, người Đức.
> Cá dĩa bồ câu (pigeon blood): được nhà lai tạo Thái Lan Kitti Phanaitthi lai tuyển chọn từ cá dĩa bông đỏ vào năm 1991.

Red spotted green: lai tuyển chọn từ cá dĩa lục với đặc điểm đốm đỏ.
> Cá dĩa beo (leopard skin): được các nhà lai tạo Hồng Kông lai tuyển chọn từ red spotted green vào năm 1993.

Dĩa ma (ghost): đột biến từ cá dĩa nâu, phát hiện vào năm 1988.
Golden discus: đột biến từ cá dĩa nâu, do nhà lai tạo Kim Keng How, Malaysia, phát hiện vào năm 1990. Cá golden có nền vàng kim, chỉ trắng trên đầu và các vây, mắt đen, vây ngực và đuôi trong suốt. Dòng này có gien hạn chế hắc sắc tố, được dùng để “tẩy” cho các dòng cá muối tiêu chẳng hạn như bồ câu (pigeon blood).
San Merah: đột biến từ cá dĩa nâu do nhà lai tạo See Chow San, Singapore phát hiện vào năm 1992.
Virgin red: đột biến từ cá dĩa nâu vào năm 1993 tại Malaysia.
Da rắn (snakeskin): đột biến từ cá dĩa hoang (không rõ nguồn gốc) với 14 can do các nhà lai tạo Malaysia và Thái Lan phát hiện từ năm 1994. Những cá thể này có chỉ rất mỏng và mịn.
Bạch ngọc (snow white): đột biến từ cá dĩa nâu, do nhà lai tạo Robert Chin, Malaysia, phát hiện vào năm 1995. Cá bạch ngọc có màu trắng trong suốt toàn thân và mắt đen.
Bạch tạng (albino): đột biến từ cá dĩa hoang alenquer red vào năm 2000. Cá bạch tạng khiếm khuyết hắc sắc tố ở mắt (con ngươi đỏ) và toàn thân.

Từ những dòng đột biến và lai tuyển chọn cơ bản này phát sinh ra vô số các biến thể cá dĩa như chúng ta thấy ngày nay.

Phân loại cá dĩa thuần dưỡng
Hướng dẫn

A) Đặc điểm giải phẫu

                                                                         [​IMG]

B) Màu

Màu gốc (primary color): màu cá non.
                                                           [​IMG]

Màu áo (secondary color): màu cá trưởng thành.
                                                                           [​IMG]
                                                       [​IMG]
                                                                                              [​IMG]

Màu nền (base color): màu giữa các chỉ, thường là nâu, đỏ, cam và vàng. Đôi khi ở một số vị trí, chẳng hạn như đầu, màu nền cũng chính là màu gốc.

C) Can

Can (stress bar): là các sọc trên mình cá, thường nổi rõ khi cá bị nhát. Số lượng can phụ thuộc vào mỗi biến thể.
                                                [​IMG]

Màu can:
                                                                [​IMG]

D) Mắt

Con ngươi:
                                                                                                   [​IMG]

Màu: lưu ý đa số cá dĩa có tròng mắt (eye-ring) đỏ một cách tự nhiên trong khi cá thể bạch tạng có con ngươi (eye-ball) màu hồng hay đỏ hạt dẻ (maroon). Nếu gọi cá thể bạch tạng một cách chung chung là mắt đỏ (red-eye) thì có thể nhầm lẫn!
                                                                               [​IMG]

E) Đặc điểm khác

Vùng D:
                                                                                                    [​IMG]

Đơn sắc (solid color): vùng D có một màu duy nhất. Cho phép có chỉ ở đầu, mang và các chóp vây.
Hoa văn (pattern): vùng D có chỉ & đốm với nhiều tông màu ánh kim khác nhau kết hợp với màu nền.

Viền (rim): mảng màu ánh kim phát triển trên vây lưng và vây hậu môn.
                                                                              [​IMG]

Chỉ (stripe/line): các vạch màu ánh kim trên đầu, thân và vây cá. Tập hợp các chỉ & đốm tạo thành hoa văn.
                                                                              [​IMG]


 Chỉ dày (Thick Line)
                                           [​IMG]

Red turquoise (bông đỏ)
Red turquoise advance (bông đỏ)
Blue turquoise/brilliant (bông xanh)
Checkerboard (hạt lựu)

Chi tiết - Chỉ dày (gốc nâu)

Albino turquoise
Golden turquoise advance
Pigeon blood classic (bồ câu)
Pigeon blood advance (bồ câu)

Chi tiết lớp 5 - Chỉ dày (gốc be)

Chỉ mỏng (Thin Line)
                                                  [​IMG]

Red snakeskin (da rắn đỏ)
Blue snakeskin (da rắn xanh)
Autumn red snakeskin

Albino snakeskin
Golden snakeskin

Chi tiết - Chỉ mỏng

 Hoa văn (Pattern)
                                                                                 [​IMG]

                                 Lớp này bao gồm những hoa văn đặc biệt như 
khoen (ring)hạt lựu (checkerboard/box/pearl) và tinh tế (sophisticated/mosaic).

Đốm (Spotted)
                                            [​IMG]

Spotted leopard skin (beo)
Broken-line leopard skin (beo vạch)
Ring leopard skin (beo khoen)
Spotted green (classic)
Spotted green (advance)
Spotted snakeskin
Leopard snakeskin (variant 1)
Leopard snakeskin (variant 2)
Leopard snakeskin (variant 3)
Barless red spotted snake
Autumn red spotted snake

Chi tiết - Đốm (gốc nâu 1)
Chi tiết  - Đốm (gốc nâu 2)

Golden leopard (variant 1)
Golden leopard (variant 2)
Golden leopard (variant 3)
Spotted golden
Golden spotted snake
Golden leopard snake
Pigeon leopard (variant 1)
Pigeon leopard (variant 2)
Pigeon spotted snake

Chi tiết  - Đốm (gốc be 1)
Chi tiết  - Đốm (gốc be 2)

White leopard (beo tuyết)
White spotted snake (variant 1)
White spotted snake (variant 2)

Snow leopard

Chi tiết  - Đốm (gốc xám/kem)

 Hoa văn tự do (Open Pattern)
                                                                                                     [​IMG]

Những cá thể mà hoa văn lỡ cỡ, không lấp đầy vùng D (thiếu) được xếp vào lớp này.

 Lam (Solid Blue)
Màu sắc biến đổi từ tông lam đến tông lục tùy dòng. Đuôi thường trong suốt. Can có xuất hiện hay không là tùy dòng.

Cobalt (lam Đức, lam A)
Barless snakeskin
Blue diamond (lam phấn)
Blue cover
Ocean green

Chi tiết - Lam (gốc nâu)

Blue chameleon
Blue white

Chi tiết - Lam (gốc be/xám)

Ghi chú: hầu hết cá dĩa đều có tông màu lam ngoại trừ một vài ngoại lệ có tông màu lục như ocean green và spotted green. Lớp Lam được chia thành lam (A) và lục (B). Mọi người đã quen gọi dĩa cobalt là lam A dẫu rằng còn có nhiều biến thể dĩa lam khác; lục B (hay "lam B") chính là ocean green.

Đỏ (Solid Red)
Màu đỏ đơn sắc phát triển từ sau nắp mang cho đến gốc đuôi và các vây. Cũng tùy dòng mà vùng đầu có tông màu từ kem đến xám lục. Đuôi thường trong suốt và thân không có can. Bản thân màu đỏ cũng có nhiều tông khác nhau, từ đỏ hạt dẻ đến đỏ tươi. Điều thú vị là cá cái ở lớp này có màu đỏ đậm hơn cá đực.

Virgin red
Rose red
Blood red

Chi tiết  - Đỏ (gốc nâu)

Marlboro red
Whiteface marlboro red
Red melon
Marlboro tangerine
Golden sun
Golden tangerine

Chi tiết  - Đỏ (gốc be)

Red white
Snow red

Chi tiết  - Đỏ (gốc xám/kem)

 Vàng (Solid Yellow)
Cá thuộc lớp này có tông màu từ vàng đến cam.

Golden
Yellow white
Snow yellow

Chi tiết  - Vàng

Trắng (Solid White)
Snow white (bạch ngọc)
White butterfly (bạch điệp)

Chi tiết - Trắng

Màu tự do (Open)
Albino classic
Gold cap
Calico
Nebula
Red ghost

Chi tiết  - Open color (Màu tự do)

Ghi chú:
a) Những triển lãm ở châu Á không có các lớp dành cho cá hoang dã.
b) Một số biến thể được tách ra thành một lớp riêng, chẳng hạn như beo da rắn (Red-spotted Snakeskin), bồ câu (Pigeon Blood), da rắn (Snakeskin)...
c) Đặc điểm bạch tạng (con ngươi màu hạt dẻ) được tách ra lớp riêng.
d) Số lượng và lớp có thể thay đổi tùy năm. Chẳng hạn Aquarama 2007 có  - Thin-line Stripes (da rắn) thì sang năm 2009 được gom vào  - Unclassified Pattern/Stripes/Spotted (Hoa văn tự do).

Nguồn: diendancacanh.com

Share this post!

Hotline tư vấn miễn phí: 0888 505 505
Hotline: 0888 505 505
Chỉ đường icon zalo Zalo: 0888 505 505 SMS: 0888 505 505

CÁ NHIỆT ĐỚI PHƯƠNG NAM

CÁ NHIỆT ĐỚI PHƯƠNG NAM

CÁ NHIỆT ĐỚI PHƯƠNG NAM